Giày dép các loại: kim ngạch xuất khẩu trong tháng đạt 789 triệu USD, giảm 8,4% so với tháng 5. Tính đến hết tháng 6/2013, xuất khẩu nhóm hàng giày dép đạt gần 4 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2012; trong đó, trị giá xuất khẩu sang thị trường EU là 1,39 tỷ USD, tăng 7,1% và chiếm 35% kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt 1,27 tỷ USD, tăng 20,1%; sang Nhật Bản đạt 184 triệu USD, tăng 15,6%; sang Trung Quốc đạt 169 triệu USD, tăng 9,9%… so với cùng kỳ năm 2012.

Dầu thô: lượng xuất khẩu dầu thô trong tháng là 814 nghìn tấn, tăng 6,1% so với tháng 5/2013 với trị giá là 677 triệu USD, tăng 5,5%. Tính từ đầu năm đến hết tháng 6/2013, lượng dầu thô xuất khẩu của cả nước đạt 4,29 triệu tấn, tăng nhẹ 1,3% về lượng nhưng kim ngạch lại giảm 4,3% (đạt 3,68 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước do giá xuất khẩu bình quân mặt hàng này giảm 78 USD/tấn.

Dầu thô của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Nhật Bản: 1,27 triệu tấn, giảm 19,5%; sang Ôxtrâylia: 749 nghìn tấn, tăng 3,4%; sang Malaysia: 709 nghìn tấn, tăng 37,3%; sang Hàn Quốc: 492 nghìn tấn, tăng 167% so với cùng kỳ năm 2012.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng khác: trong tháng 6/2013, xuất khẩu đạt 472 triệu USD, giảm 4,9%, qua đó nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 6 tháng/2013 lên 2,65 tỷ USD, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm 2012.

Tính đến hết tháng 6/2013, xuất khẩu nhóm hàng này sang Nhật Bản là 575 triệu USD, giảm 4,4%; sang Hoa Kỳ: 448 triệu USD, giảm 7,6%; sang EU: 335 triệu USD, tăng 8,4%; sang Trung Quốc: 160 triệu USD, giảm 5%; sang Hồng Kông: gần 160 triệu USD, tăng 8,3%… so với cùng kỳ năm trước.

Hàng thủy sản: trị giá xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tháng 6/2013 đạt 534 triệu USD, giảm 9,9% so với tháng trước, qua đó nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 6 tháng/2013 lên 2,82 tỷ USD, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước.

Tính đến hết tháng 6/2013, hàng thủy sản của Việt Nam đã xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt trị giá 579 triệu USD, tăng 4,2%; thị trường EU: 501 triệu USD, giảm 9,5%; Nhật Bản: 481triệu USD, giảm 4,1%; Hàn Quốc: 189 triệu USD, giảm 20,3%…

Gỗ & sản phẩm gỗ: xuất khẩu trong tháng đạt 431 triệu USD, giảm 4,4% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu trong 6 tháng/2013 lên 2,45 tỷ USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2012.

Trong nửa đầu của năm 2013, nhóm hàng gỗ & sản phẩm gỗ xuất sang Hoa Kỳ đạt 876 triệu USD, tăng 6,4%; sang Trung Quốc: 412 triệu USD, tăng 16,6%; sang Nhật Bản: 369 triệu USD, tăng 18,4%; sang thị trường EU: 311 triệu USD, giảm 3,3%… so với cùng kỳ năm 2012.

Cao su: lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng đạt 83 nghìn tấn, trị giá gần 188 triệu USD, tăng 15,6% về lượng và tăng 10,2% về trị giá so với tháng trước. Tính trong 6 tháng/2013, lượng xuất khẩu cao su của cả nước là 385 nghìn tấn, giảm 4,4%, kim ngạch đạt 971 triệu USD, giảm 19,5%.

Trung Quốc vẫn là đối tác chính nhập khẩu và tiêu thụ cao su của Việt Nam với 183 nghìn tấn, giảm 13,2% so với 6 tháng/2012 và chiếm 47,4% lượng cao su xuất khẩu của cả nước. Tiếp theo là các thị trường: Malaysia: 75,7 nghìn tấn, tăng 16,9%; Ấn Độ: 20,6 nghìn tấn, tăng 20,9%…

Gạo: trong tháng này, lượng gạo xuất khẩu đạt 643 nghìn tấn, trị giá là 277 triệu USD, giảm 8,7% về lượng và giảm 11,5% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết tháng 6/2013, lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước đạt 3,58 triệu tấn, trị giá đạt 1,58 tỷ USD, giảm 6,4% về lượng và giảm 9,9% về trị giá so với 6 tháng/2012.

Trong nửa đầu năm nay, Việt Nam xuất khẩu gạo sang Trung Quốc đạt 1,29 triệu tấn, tăng 19,7%; Philiipin: 294 nghìn tấn, giảm 44,5%; Bờ Biển Ngà: 211 nghìn tấn, giảm 0,7%; Malaysia: 195 nghìn tấn, giảm 41,4%; Singapore: 169 nghìn tấn, tăng 48,8%; Ghana: 162 nghìn tấn, tăng 13%…

Hạt điều: lượng hạt điều xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 6/2013 đạt hơn 21,5 nghìn tấn, trị giá gần 137 triệu USD, giảm 13,4% về lượng và giảm 14,2% về trị giá so với tháng trước, nâng tổng lượng xuất khẩu nhóm hàng này trong 6 tháng/2013 đạt 110 nghìn tấn, tăng 10,6% và trị giá đạt 689 triệu USD, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước.

Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu và tiêu thụ hạt điều của Việt Nam với 34,4 nghìn tấn, tăng 21% và chiếm gần 1/3 lượng điều xuất khẩu. Tiếp theo là thị trường Trung Quốc với gần 18 nghìn tấn, giảm 1,9%; Hà Lan với 10,9 nghìn tấn, giảm 2,3%; Ôxtrâylia với 5,3 nghìn tấn, giảm 11,8%; Ấn Độ: hơn 5 nghìn tấn, gấp 2,56 lần…

            Than đá: trong tháng 6/2013, lượng xuất khẩu than đá đạt 1,4 triệu tấn, tăng nhẹ 2,8% nhưng trị giá đạt 92 triệu USD, giảm 13,4% so với tháng 5. Như vậy, trong 6 tháng/2013, tổng lượng than xuất khẩu của cả nước là 7,72 triệu tấn, tăng 6,3% nhưng đơn giá xuất khẩu bình quân giảm 20% nên kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 650 triệu USD, giảm 15% so với cùng kỳ năm 2012.

Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhập khẩu than đá của Việt Nam với 6,19 triệu tấn, tăng 8,8% và chiếm hơn 80% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước. Tiếp theo là thị trường Nhật Bản: 596 nghìn tấn, tăng 6% và Hàn Quốc: 572 nghìn tấn, tăng 3,1%…

Một số nhóm hàng nhập khẩu chính

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 1,36 tỷ USD, giảm 13,7% so với tháng trước. Trong 6 tháng/2013, nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước là 8,5 tỷ USD, tăng 49,8%; trong đó nhập khẩu của khu vực FDI là 7,84 tỷ USD, tăng 56,9% và nhập khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước là 663 triệu USD, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước.

Hàn Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam với trị giá nhập khẩu là 2,47 tỷ USD, tăng mạnh 81,5%; tiếp theo là các thị trường: Trung Quốc: 2,09 tỷ USD, tăng 48,5%; Singapore: 1 tỷ USD, gấp 2,2 lần; Nhật Bản: 765 triệu USD, tăng 5,1%; Ailen: 643 triệu USD, gấp 2,1 lần… so với cùng kỳ năm 2012.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác: trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng là 1,51 tỷ USD, giảm 8,9% so với tháng trước, nâng trị giá nhập khẩu trong 6 tháng/2013 lên 8,46 tỷ USD, tăng 7,9% so với 6 tháng/2012; trong đó khối các doanh nghiệp FDI nhập khẩu gần 5 tỷ USD, tăng 22,9% và khối các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu gần 3,48 tỷ USD, giảm 8,1%.

Trong 6 tháng qua, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này từ Trung Quốc đạt 2,76 tỷ USD, tăng 11,6%; Hàn Quốc: 1,35 tỷ USD, tăng mạnh 62,7%. Một số các thị trường khác có tốc độ giảm như: Nhật Bản: 1,44 tỷ USD, giảm 10,8%; Đài Loan: 394 triệu USD, giảm 6,3%; Đức: 380 triệu USD, giảm 12,1%…

Điện thoại các loại và linh kiện: trong tháng 6/2013, Việt Nam đã nhập khẩu 652 triệu USD nhóm hàng này, giảm 18,4% so với tháng trước, qua đó nâng tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong 6 tháng/2013 lên gần 3,77 tỷ USD, tăng 85,2% về số tương đối và tăng 1,73 tỷ USD về số tuyệt đối.

Nhập khẩu nhóm hàng này vào Việt Nam trong 6 tháng/2013 chủ yếu có xuất xứ từ: Trung Quốc với 2,61 tỷ USD, tăng 85%; Hàn Quốc: 1,09 tỷ USD, tăng 119%. Tính chung trị giá nhập khẩu từ hai thị trường này chiếm 98,3% tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.

Xăng dầu các loại: lượng xăng dầu nhập khẩu trong tháng là gần 608 nghìn tấn, trị giá là 543 triệu USD, giảm 13% về lượng và giảm 13,3% về trị giá. Tính đến hết tháng 6/2013, tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước là 3,75 triệu tấn, giảm 24%. Đơn giá nhập khẩu bình quân của nhóm hàng này giảm 4,1% nên trị giá nhập khẩu đạt 3,52 tỷ USD, giảm 27,1% về số tương đối và giảm 1,31 tỷ USD về số tuyệt đối, trong đó phần trị giá giảm do yếu tố lượng giảm là 1,16 tỷ USD và giảm do yếu tố giá giảm là 150 triệu USD.

Lượng nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam trong 6 tháng qua giảm mạnh chủ yếu từ thị trường chính là Singapore với lượng nhập khẩu đạt 1,1 triệu tấn, giảm 45%. Lượng nhập khẩu từ một số thị trường khác như: Trung Quốc: 597 nghìn tấn, giảm 7,6%; Đài Loan: 583 nghìn tấn, giảm 17%; Cô Oét: 408 nghìn tấn, tăng 35,2%; Malaysia: 337 nghìn tấn, tăng 68,8% …

Nguyên vật liệu ngành dệt may, da, giày: trị giá nhập khẩu nhóm hàng nguyên vật liệu cho ngành dệt, may, da, giày trong tháng đạt 1,21 tỷ USD, giảm 20,5% so với tháng trước. Tuy trị giá nhập khẩu trong tháng của bông, vải, sơ xợi, nguyên phụ liệu đều có mức giảm khá nhưng tính chung trong 6 tháng thì trị giá nhập khẩu của các nhóm hàng này đều tăng. Cụ thể: trị giá nhập khẩu vải: 3,94 tỷ USD, tăng 16,3%; nguyên phụ liệu: 1,76 tỷ USD, tăng 16,3%; xơ, sợi: 724 triệu USD, tăng 5,7%; bông: 577 triệu USD, tăng 29,6%.

Diễn biến lượng nhập khẩu sắt thép các loại theo tháng  từ tháng 1/2010 đến tháng 6/2013

Diễn biến lượng nhập khẩu sắt thép các loại theo tháng
từ tháng 1/2010 đến tháng 6/2013

Các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu từ các thị trường thuộc châu Á như: Trung Quốc: 2,56 tỷ USD, tăng 24,8%; Hàn Quốc: 1,23 tỷ USD, tăng 18%; Đài Loan: 1,02 tỷ USD, tăng 4,5%; Nhật Bản: 378 triệu USD, giảm 10,4%…

Sắt thép các loại: lượng nhập khẩu sắt thép trong tháng đạt 821 nghìn tấn, với trị giá là 573 triệu USD, giảm 13,2% về lượng và giảm 16,3% về trị giá so với tháng trước, nâng tổng lượng nhập khẩu sắt thép của cả nước trong 6 tháng/2013 lên gần 4,88 triệu tấn, trị giá là 3,51 tỷ USD, tăng 28,5% về lượng và tăng 13,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012.

Nguồn:  Tổng cục Hải Quan